Xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam

Già hóa dân số là vấn đề lớn mà các nước đang phát triển đang phải đối mặt. Theo dự báo, số người cao tuổi ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới. Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “dân số già” vào năm  2017. Người cao tuổi không ngừng tăng lên về số lượng tương đối và số tuyệt đối. Tỷ lệ người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) trong tổng dân số tăng từ 6,9% (1979) lên 9,5% (2007) [1].

Bảng 1: Cơ cấu tuổi dân số Việt Nam, 1979 – 2007

Năm

Số người (triệu người)

Tỷ lệ (% tổng dân số)

Tổng

0-14

15-59

60+

0-14

15-59

60+

1979

53,74

23,40

26,63

3,71

41,8

51,3

6,9

1989

64,38

24,98

34,76

4,64

39,2

53,6

7,2

1999

76,33

25,56

44,58

6,19

33,0

58,9

8,1

2007

85,15

21,73

55,38

8,04

25,0

65,5

9,5

Nguồn: Tổng điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và Tổng cục thống kê (2007,2008) [2]

dan-so

Theo dự báo của Liên hiệp quốc (2008) mô tả về biến động dân số Việt Nam theo cơ cấu tuổi giai đoạn 2010-2050 thì tỷ lệ người cao tuổi sẽ tăng mạnh từ năm 2015 và đạt mức 26,1% tổng dân số năm 2050.

Bảng 2: Dự báo dân số Việt Nam theo cơ cấu tuổi, 2010-2050

Nhóm dân số 2010 2015 2020 2025 2030 2035 2040 2045 2050
Trẻ em (0-14) 26,3 25 23,4 21,9 20,4 19,2 18,3 17,7 17,2
Tuổi lao động (15-59) 65,8 65,9 65,6 64,7 63,8 62,5 60,9 59,0 56,7
Cao tuổi (60+) 7,9 9,1 11 13,4 15,8 18,3 20,8 23,3 26,1

Nguồn: Liên hiệp quốc (2008) [2]

Những thách thức về chính sách [2]

  1. Thời gian để Việt Nam chuẩn bị thích ứng với dân số già hóa ngắn hơn nhiều so với các nước khác. Ví dụ: để tăng tỷ lệ dân số cao tuổi từ 7% lên 10%, Pháp mất 70 năm, Mỹ mất 35 năm, Nhật Bản mất 15 năm, trong khi Việt Nam mất khoảng 20 năm.
  2. Tỷ lệ hộ gia đình người cao tuổi “khuyết thế hệ” (chỉ có ông bà sống chung với cháu) tăng lên rõ rệt. Lí do dẫn đến tình trạng trên là việc di cư của một bộ phận lớn người lao động trẻ lên các tỉnh, thành phố để mưu sinh. Và cũng chính lí do di cư làm cho tốc độ già hóa dân số ở các tỉnh/ thành phố hết sức khác nhau, trong đó tỉnh có thu nhập thấp hơn lại có tỷ lệ người cao tuổi cao hơn. Với mục đích di cư là tăng thu nhập thì rõ ràng người cao tuổi rất dễ bị tổn thương với những rủi ro kinh tế, xã hội khi người di cư (thường là con cái của người cao tuổi) không có việc làm và cuộc sống ổn định.
  3. Mô hình bệnh tật ở người cao tuổi thay đổi nhanh chóng, từ bệnh lây nhiễm sang bệnh không lây nhiễm với tính chất của một xã hội hiện đại.
  4. Rủi ro về kinh tế lớn khi Việt Nam có thể rơi vào tình trạng “già trước khi giàu”, nghĩa là mức tích lũy, tiết kiệm không đáp ứng kịp với tốc độ già hóa dân số.
  5. Tốc độ già hóa nhanh khiến cho việc cân bằng bảo hiểm xã hội, đặc biệt là quỹ hưu trí gặp nhiều khó khăn.
  6. Hệ thống trợ cấp xã hội cho người cao tuổi được mở rộng về qui mô và mức hưởng nhưng tỷ lệ rò rỉ và tác động giảm nghèo chưa thật sự cao.

Tài liệu tham khảo

  1. Phạm Thắng, Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009), Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam, Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình.
  2. Giang Thanh Long, Lê Hà Thanh (2010), Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam, Nhà xuất bản Giao thông vận tải.
Điền ngọc Trang (Khoa Sức khỏe trường học)