SƠ LƯỢC VỀ CÁCH TIẾP CẬN VỆ SINH TỔNG THỂ DO CỘNG ĐỒNG LÀM CHỦ (CLTS)

Kết quả thu được từ quá trình triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sau 2 giai đoạn đầu tiên, cho thấy để đạt được mục tiêu về tỷ lệ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tại vùng nông thôn là hầu như không thể, với cách tiếp cận truyền thống. Điều này hoàn toàn không khả thi cả về tài chính, cũng như về nhân lực.

skmt

Từ những kinh nghiệm học hỏi được từ các quốc gia khác, Việt Nam bước đầu đã ứng dụng mô hình CLTS tại một số tỉnh/thành, và đạt được những thành công nhất định. Sau đây là một số giới thiệu sơ lược, với mong muốn sẽ giúp độc giả hình dung những nét cơ bản của phương thức truyền thông này. Chi tiết hơn về cách thức kích hoạt CLTS và những kinh nghiệm triển khai mô hình của các quốc gia khác sẽ được nêu cụ thể hơn trong các tài liệu khác.

1. Đôi điều về người tiên phong về CLTS trong lĩnh vực truyền thông vệ sinh môi trường

Kamal Kar – một nhà cố vấn phát triển người Ấn Độ – đã mở ra cách tiếp cận vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ trong khi lượng giá một dự án vệ sinh và nước có hỗ trợ tài chính theo cách truyền thống của Water Aid Bangladesh và đối tác phi chính phủ của họ là VERC (Trung tâm đào tạo nhân lực cấp làng/xã), tại Mosmoi, một ngôi làng ở quận Rajshahi của Bangladesh vào thời khoảng từ 1999 đến 2000. Ông Kamal Kar, người đã có nhiều năm kinh nghiệm trong những cách tiếp cận lôi cuốn trong các dự án phát triển, muốn hiểu về nhận thức của cộng đồng và tại sao người ta đi tiêu tự do.

Học hỏi từ cộng đồng bản địa, ông đã thành công trong việc thuyết phục các tổ chức phi chính phủ địa phương dừng việc xây dựng nhà tiêu từ công cộng đến hộ gia đình thông qua tiền trợ cấp. Ông đã chủ trương thay đổi thái độ của các cơ quan, tổ chức và nhu cầu của việc lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương và tạo điều kiện thuận lợi để họ tự phân tích tình trạng vệ sinh và nước, và đưa ra một quyết định chấm dứt đi tiêu bừa bãi mà không chờ đợi sự hỗ trợ từ người ngoài. Kết quả là đáng ghi nhận, và đầy thú vị.

Thông qua việc đào tạo, tham khảo ý kiến, sự ủng hộ tích cực,  Kar đã giới thiệu và đóng vai trò tích cực trong sự lan truyền của CLTS tại hơn 28 quốc gia ở Á châu, Phi châu và Mỹ La-tin xuyên suốt 10 năm làm việc với các cơ quan như WSP, DRD, UNICEF, WSSCC, WHO, Plan International, Water Aid, v.v. Sau khi giới thiệu cách tiếp cận này ở Ấn Độ, Indonesia, Campuchia, Pakistan và một số nước tại Á châu, từ năm 2006 Kar đã giới thiệu đến các nước ở vùng Đông và Nam Phi, bao gồm Uganda, Ethiopia, Tanzania, Kenya, Zambia, Mozambique, Malawi, Eritrea và Sudan. Ông đã mang CLTS đến Đông Phi vào năm 2007, và tạo điều kiện thuận lợi cho 3 cuộc hội thảo đào tạo tại Sierra Leon, tiếp sau đó ở Mali, Nigeria và Chad vào năm 2009.

Hiện nay, CLTS đang được triển khai tại hơn 32 nước trên toàn thế giới và ít nhất 5 quốc gia đã sử dụng CLTS trong các chính sách về vệ sinh ở nước của họ.

2. CLTS là gì?

CLTS (Community-Led Total Sanitation) nói đến Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ. Đây là một cách tiếp cận tổng hợp để đạt được và duy trì tình trạng chấm dứt đi tiêu bừa bãi. CLTS đòi hỏi phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự phân tích của cộng đồng về hiện trạng vệ sinh, những thói quen đi tiêu của họ và hậu quả của chúng, dẫn đến hành động chung để chấm dứt đi tiêu bừa bãi. Kích hoạt viên sử dụng từ ngữ địa phương và động viên người dân đi thăm những khu vực dơ nhất, bẩn thỉu nhất trong xóm làng họ sinh sống; nhận xét và phân tích sự kinh tởm, xấu hổ của họ. Đây là cách tiếp cận mang tính vui nhộn, kích động, và không can thiệp trong việc đưa ra các quyết định, hay hành động của cộng đồng.

Các cách tiếp cận mà trong đó người ngoài “dạy” cho các thành viên cộng đồng về cái gì là tốt/không tốt đều không phải là CLTS.

Tiến trình CLTS có thể diễn ra trước, rồi dẫn đến, hoặc xuất hiện đồng thời với, sự cải thiện về thiết kế của nhà tiêu; sự chấp thuận và cải thiện về thực hành vệ sinh; quản lý chất thải rắn; thải bỏ nước thải; chăm sóc sức khỏe; bảo vệ và giữ gìn nguồn nước; và các giải pháp môi trường khác. Trong nhiều trường hợp, CLTS khởi phát một chuỗi những hoạt động phát triển chung của địa phương phát xuất từ các cộng đồng không còn đi tiêu bừa bãi.

* Lưu ý chung về CLTS:

–       Phương pháp tiếp cận không có sự hỗ trợ về tài chính.

–       Tập trung thay đổi hành vi vệ sinh của cộng đồng.

–       Cách tiếp cận không can thiệp, chỉ dẫn dắt, và để người dân tự phân tích, tự nhận thức, tự lựa chọn cách giải quyết vấn đề của bản thân họ.

–       Tâm điểm là “Kích hoạt”

–       Mục tiêu của CLTS không phải là để người dân xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, dù rằng đây là kết quả tối ưu có thể đạt được, mà là Chấm Dứt Tình Trạng Đi Tiêu Bừa Bãi !

3. Các bước cơ bản của CLTS

CLTS có 4 bước chính:

1) Tiền kích hoạt: chọn cộng đồng để kích hoạt; giới thiệu và xây dựng quan hệ với địa phương

2) Kích hoạt: Phân tích hiện trạng vệ sinh; tạo nên khoảnh khắc cao trào để chuyển đổi từ nhận thức sang chuyển đổi hành vi, cam kết Chấm Dứt Tình Trạng Đi Tiêu Bừa Bãi.

3) Hậu kích hoạt: Lập kế hoạch hành động cho cộng đồng; theo dõi, giám sát.

4) Nhân rộng và vượt khỏi mô hình CLTS

Như đã nói, CLTS không chỉ dừng lại ở việc khuyến khích, thúc đẩy xây dựng, sử dụng, nhằm tăng tỉ lệ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, mà còn có thể được ứng dụng trong nhiều vấn đề khác liên quan đến sức khỏe môi trường. Tuy vậy, trong bối cảnh và mục tiêu chung hiện nay, khi kích hoạt CLTS chúng ta chỉ tập trung vào 3 bước chủ chốt đầu tiên. Khi triển khai kích hoạt, 3 bước lớn này sẽ được chia thành các bước nhỏ hơn, thuận tiện cho việc chuẩn bị, thực hiện.

4. Những điều nên và không nên làm khi ứng dụng mô hình CLTS

a. Nên làm

–   Để người dân tự thân vận động

–   Tạo điều kiện thuận lợi để người dân tự đánh giá, tự phân tích hiện trạng vệ sinh tại địa phương

–   Dẫn dắt, để người dân tự nhận thức rõ thông qua việc họ tự phân tích

–   Người điều hành, kích hoạt viên nên là người địa phương

–   Lắng nghe mọi ý kiến từ người dân với thái độ cầu thị

–   Để người dân thoải mái cách tân mô hình nhà tiêu phù hợp với họ; chỉ hướng dẫn các tiêu chí, mô hình mẫu, và không ép buộc

–   Luôn khuyến khích các thành phần nghèo, phụ nữ, trẻ em tham gia

–   Sẵn sàng đón nhận những sự hỗ trợ về tài chính từ bên ngoài trong quá trình hậu kích hoạt

b. Không nên làm

–   Không trực tiếp thực hiện các bước kích hoạt

–   Giáo dục/giảng dạy hoặc nói người dân phải làm việc gì

–   Tự nói với người dân cái gì là tốt/không tốt

–   Yêu cầu người dân hành động

–   Bỏ qua các thành phần như phụ nữ, trẻ em, người nghèo

–   Quảng bá, kinh doanh vật dụng xây dựng nhà tiêu

–   Không chào đón sự hỗ trợ từ bên ngoài

–   Không lắng nghe ý kiến của người dân

** Kinh nghiệm triển khai CLTS tại Campuchia

Khi người dân đã tự mình bỏ tiền ra xây dựng nhà tiêu, nếu chọn cho họ một mô hình/thiết kế nhà tiêu kém chất lượng, một khi nhà tiêu bị hư hỏng chỉ sau thời gian ngắn sử dụng, để thuyết phục họ bỏ tiền xây dựng nhà tiêu lần nữa là hoàn toàn không khả thi. Tình trạng đi tiêu bừa bãi lại tái diễn.

Phải thuyết phục người dân đầu tư vào giá trị thực (cái không thấy được) – các thành phần xây dựng chìm dưới đất – hơn là những giá trị bên ngoài (nhìn thấy được) , chẳng hạn như bồn cầu, vách tường che chắn nhà tiêu, mái che, v.v. Những phần bên trên có thể nâng cấp theo thời gian, khi có điều kiện.

Nguồn tài liệu tham khảo, người trích dẫn :

1) Kamal Kar, Rober Chambers (2008), Handbook on Community-Led Total Sanitation, Institute of Development Studies at the University of Sussex, UK

2) Kamal Kar (2010), Workshops for Community-Led Total Sanitation, Water Supply and Sanitation Collaborative Council, Switzerland

3) Water and Sanitation Program (2008), Sanitation Demand and Supply in Cambodia, Cambodia

Nguyễn Đỗ Quốc Thống

Khoa Sức khỏe môi trường-IHPH