Quy trình chung xử lý sự cố đổ tràn chất thải y tế nguy hại

Tất cả chất thải phát sinh từ cơ sở y tế đều được coi là chất thải y tế. Trong đó, khoảng 75-90% chất thải y tế là chất thải thông thường, tương tự như chất thải sinh hoạt, không có nguy cơ gì, còn lại chiếm khoảng 10-25% là chất thải rắn y tế nguy hại, tuy nhiên phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương tích. Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn. Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng kháng sinh và kháng hóa chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải y tế không an toàn.

Nguy-co-lay-nhiem...

Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da; qua niêm mạc; qua đường hô hấp; qua đường tiêu hóa. Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da, mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu chúng bị nhiễm bẩn. Tổn thương da, mắt và niêm mạc đường hô hấp có thể gặp khi tiếp xúc với hóa chất gây cháy, gây ăn mòn, gây phản ứng (ví dụ formaldehyde và các chất dễ bay hơi khác). Các thuốc gây độc tế bào (các thuốc điều trị ung thư) có thể gây kích thích hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da. Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người chịu trách nhiệm thu gom chất thải, có thể phơi nhiễm với các thuốc gây độc tế bào qua hít thở hạt lơ lửng trong không khí, hấp thu qua da, tiêu hóa qua thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế bào.

Trong quá trình thu gom, vận chuyển và lưu giữ, chất thải nguy hại có thể bị rò rỉ, đổ tràn. Việc rơi vãi chất thải lây nhiễm, đặc biệt là chất thải lây nhiễm có nguy cơ cao có thể gây lan truyền bệnh trong cơ sở y tế, chẳng hạn như có thể gây ra đợt bùng phát nhiễm trùng bệnh viện trong nhân viên và bệnh nhân, hoặc gây ô nhiễm đất và nước.

Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra một quy trình chung bao gồm bước tiêu biểu nên được áp dụng trong trường hợp xảy ra sự cố đổ tràn chất thải y tế nguy hại như sau:

  1. Sơ tán vùng bị nhiễm bẩn.
  2. Làm sạch vùng mắt và da tiếp xúc với chất thải ngay lập tức.
  3. Thông báo cho người có trách nhiệm để phối hợp những hành động cần thiết.
  4. Xác định tính chất của chất thải đổ tràn.
  5. Sơ tán tất cả những người không liên quan đến việc dọp dẹp vệ sinh.
  6. Thực hiện sơ cứu và chăm sóc y tế cho người bị thương.
  7. Bảo vệ khu vực nhiễm bẩn để ngăn ngừa có thêm người bị phơi nhiễm.
  8. Cung cấp đầy đủ bảo hộ lao động cho người tham gia dọn dẹp vệ sinh.
  9. Hạn chế sự lan toả của đống chất thải.
  10. Trung hòa hay khử khuẩn vật liệu bị đổ tràn hay bị nhiễm bẩn nếu cần.
  11. Thu gom toàn bộ vật liệu bị đổ tràn hay bị nhiễm bẩn. (Vật sắc nhọn không bao giờ được nhặt bằng tay, nên sử dụng chổi và dụng cụ hốt hay những dụng cụ thích hợp khác). Chất thải đổ tràn và dụng cụ vệ sinh đã nhiễm bẩn khi vứt đi phải được đặt trong túi và thùng rác thích hợp.
  12. Làm sạch và khử khuẩn khu vực nhiễm bẩn, lau sạch bằng vải thấm hút. Không bao giờ được xoay miếng vải lau (hay vật liệu thấm hút chất thải) trong quá trình lau vì sẽ làm lan toả chất bẩn. Công việc làm sạch được thực hiện từ nơi bẩn ít đến nơi bẩn nhiều và phải thay vải lau ở mỗi giai đoạn. Nên dùng vải khô trong trường hợp đổ tràn chất thải lỏng, vải thấm nước (axít, ba zơ hay trung tính sao cho phù hợp) trong trường đổ tràn chất thải rắn.
  13. Rửa sạch khu vực nhiễm bẩn và lau khô với vải thấm hút.
  14. Làm sạch và khử khuẩn bất kỳ dụng cụ nào đã được sử dụng.
  15. Cởi bỏ bảo hộ lao động và giặt sạch hay khử khuẩn nếu cần.
  16. Tìm nơi chữa trị y tế nếu trong quá trình thực hiện có phơi nhiễm với chất nguy hại.

Lê Ngọc Diệp – Khoa SKMT