Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm triển khai mô hình CLTS và tiếp thị vệ sinh tại tỉnh An Giang

Tại hội thảo, Cục Quản lý môi trường y tế cho biết một số điểm chính yếu rút ra từ kết quả tổng kết của Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2:

– Hỗ trợ ngân sách, tài chính để đạt được mục tiêu đặt ra là không khả thi.

– Nhà nước, chính quyền không đủ nhân lực để có thể đáp ứng nhiệm vụ đặt ra nếu vẫn giữ nguyên cách tiếp cận trước đây.

– Theo tính toán, có khoảng 11.000 xã cần hỗ trợ, trong khi nguồn vốn từ chương trình chỉ hỗ trợ được khoảng 800 xã.

– Đôi khi người dân đã nhận được khoản hỗ trợ, song lại không xây dựng nhà tiêu mà dùng vào mục đích khác.

– Mặt khác, khi có sự hỗ trợ tài chính, sẽ dẫn đến tâm lý ỷ lại, so sánh và đố kỵ của người dân. Đôi khi, họ có khả năng tự đầu tư, xây dựng nhà tiêu song vẫn tiếp tục chờ đợi, vì nghĩ mình sẽ nhận được những khoản hỗ trợ từ chương trình.

Để đạt được mục tiêu đặt ra, cuối giai đoạn 2, Ngành Y tế đã thực hiện và tìm kiếm những mô hình, cách thức mới phù hợp hơn, chẳng hạn như Tiếp thị vệ sinh, CLTS, v.v. Kết quả thu được cho thấy, CLTS là mô hình thành công nhất cho đến thời điểm này trong việc khơi dậy nhu cầu của người dân, để họ tự đầu tư xây dựng nhà tiêu. Ngoài ra, việc triển khai CLTS cho thấy mô hình này cần phải được vận dụng linh hoạt tùy theo từng địa phương.

simi002

Chẳng hạn, ở khu vực phía Bắc, người dân đi tiêu tự do ngoài ruộng đồng, bờ biển, v.v, trong khi miền Nam lại đi tiêu bừa bãi ở ruộng vườn, sông/kênh/rạch, v.v.  Và sự khác biệt về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu cũng đặt ra nhu cầu cần phải có sự tư vấn những mô hình nhà tiêu đúng quy cách, phù hợp, khả thi về tài chính cho từng địa phương.

Đối với giai đoạn 2012 – 2015, chủ trương chỉ đạo, thực hiện chương trình là:

– Không cam kết hỗ trợ tài chính.

– Xây dựng mô hình mẫu trên diện rộng (không tập trung vào một số địa phương như trước đây).

– Chỉ hỗ trợ tài chính đối với người nghèo (đã được Ủy ban xác minh).

– Những người giàu, khá giả, hay có khả năng tự đầu tư, phải tự xây dựng nhà tiêu cho mình, chương trình không hỗ trợ tài chính.

Xuất phát từ thực tế là An Giang đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong các nội dung hoạt động của chương trình, đặc biệt là nâng cao tỉ lệ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh ở nông thôn, và bước đầu ứng dụng rất thành công mô hình CLTS. Hội thảo đã được tổ chức tại An Giang với mong muốn các địa phương phía Bắc học hỏi kinh nghiệm, và để các tổ chức quốc tế (Plan International, Water Aid, World Vission, v.v.) phần nào hiểu rõ hơn, cung cấp nguồn vốn viện trợ nhiều hơn cho các hoạt động của chương trình trong giai đoạn 2012 – 2015.

Một số bài học kinh nghiệm của An Giang đã chia sẻ tại hội thảo:

– An Giang có nhiều thuận lợi do có được cơ chế tổ chức tốt, Ban chỉ đạo chương trình được kiện toàn từ tỉnh đến huyện, xã; phân khai rõ nhiệm vụ giữa 3 ngành liên quan trong chương trình.

– Trên địa bàn tỉnh, hiện đã có 3 công ty/doanh nghiệp, cùng các nhóm thợ xây chuyên về xây dựng nhà tiêu. Đây là một thuận lợi rất lớn trong việc triển khai xây dựng nhà tiêu đúng quy cách, đảm bảo tiến độ thi công, cũng như thuận tiện khi quyết toán.

– Sự tuyên truyền, vận động sẽ hiệu quả hơn khi tác động vào trẻ em, học sinh, để rồi những đối tượng này sẽ tác động lên phụ huynh, cha mẹ của mình thì sẽ hiệu quả hơn nhiều so với vận động trực tiếp cha mẹ của trẻ.

– Khi xét duyệt hộ nghèo/cận nghèo để hỗ trợ, nhất thiết phải thông qua UBND xã xét duyệt, phê duyệt. Và mọi hoạt động của chương trình đều phải có sự tham gia của UBND xã, như vậy sẽ thuận lợi hơn về mặt pháp lý, cũng như huy động được mọi nguồn  lực trong xã hội cùng tham gia.

– Cần phải đào tạo, nâng cao năng lực thi công của các nhóm thợ xây trước khi triển khai thực hiện.

– Nên hỗ trợ thành lập những công ty chuyên trách việc xây dựng nhà tiêu để có thể đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà tiêu.

– Dựa trên những bản vẽ thiết kế, báo cáo hoàn công để quyết định chi phí xây dựng của từng mô hình nhà tiêu, tránh xuất toán khi kiểm toán; và đưa ra được mức hỗ trợ tài chính phù hợp.

– Nên có chính sách khen thưởng (hiện vật, bằng khen, v.v.) để khích lệ đội ngũ nhân viên y tế, cộng tác viên, thợ xây tham gia trong chương trình. Kết quả thực hiện tại An Giang cho thấy, đối với những trạm y tế xã thực hiện tốt, sau khi nhận được bằng khen của UBND tỉnh, họ vô cùng phấn khích, và càng nỗ lực thực hiện tốt hơn, tích cực chia sẻ kinh nghiệm cho các địa phương khác.

Ý kiến tổng hợp của các đại biểu

– Mô hình CLTS được khuyến khích áp dụng tại các địa phương có tỷ lệ nhà vệ sinh còn thấp; ngoài CLTS cần kết hợp thêm tiếp thị vệ sinh “Sanitation Marketing” để giới thiệu và tiếp cận quá trình cung và cầu trong việc xây dựng nhà tiêu hộ gia đình.

– Chi phí, giá thành của từng mô hình nhà tiêu phải do địa phương xem xét quyết định, phù hợp cho từng vùng miền.

– Các hỗ trợ thực hiện Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường sẽ tuân theo các hướng dẫn Thông tư tài chính hiện hành, Bộ Y tế sẽ đề xuất các mức chi hợp lý để hỗ trợ cho các hoạt động thực tế tại địa phương.

– Kinh phí hỗ trợ tài chính cho người nghèo cần kết hợp nhiều dự án, nhiều ban ngành, và các tổ chức phi chính phủ, v.v.

– Sẽ sớm có những văn bản quy định cụ thể mức chi cho về việc tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo chia sẻ kinh nghiệm giữa các địa phương, vùng miền riêng cho Chương trình.

Các mô hình nhà tiêu mẫu rất cần thiết để cho các địa phương áp dụng trong quá trình xây dựng nhà tiêu hộ gia đình. Kinh phí xây dựng các mô hình nhà tiêu mẫu có thể lấy từ kinh phí của Chương trình mục tiêu nước sạch và vệ sinh môi trường.

Nguyễn Đỗ Quốc Thống

Khoa Sức khỏe môi trường