Bệnh béo phì ở trẻ em

Tình trạng thừa cân và béo phì đã và đang trở thành một nguy cơ của sức khỏe. Tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, tình trạng này đang tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây nhất là ở trẻ em bên cạnh một số lượng không nhỏ các bệnh nhân bị suy dinh dưỡng.

benh-beo-phi-o-tre-em

1. Nguyên nhân gây béo phì:

Nhiều người cho rằng có vô số lý do gây thừa cân, song thực ra chỉ có ba nguyên nhân chính là gene, thực phẩm và mức độ luyện tập

+ Gene: Các nhà khoa học đã nhận dạng nhiều loại gene làm tăng hoặc giảm cảm giác thèm ăn, khiến một số người chóng đói hơn người khác, hoặc cần phải ăn nhiều hơn thì mới đủ no. Đó chính là nguyên nhân gây ra hiện tượng ăn quá nhiều và tăng cân.

+ Thói quen ăn uống: Những người hay lựa chọn thực phẩm nhiều chất o hoặc giàu năng lượng (dù chỉ là khẩu phần nhỏ) sẽ dễ bị tăng cân hơn so với những người có đĩa thức ăn đầy nhưng rất ít năng lượng như bánh mỳ, khoai tây và rau xanh. Ăn quá nhiều đồ béo còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Tiêu thụ đồ ăn nhanh, kể cả khi không thực sự thấy đói, cũng khiến bạn nhanh chóng rơi vào tình trạng tăng cân khó kiểm soát.

+ Vận động cơ thể: Những người có cuộc sống năng động thường ít bị tăng cân hơn người ngồi lì trước máy tính, TV, hoặc lái ôtô cả ngày. Năng tập thể dục có thể giúp kiểm soát cân nặng và cải thiện vóc dáng, đồng thời làm giảm nguy cơ phát triển các bệnh tim mạch và tiểu đường

* Sự thay đổi về chế độ ăn uống, ít luyện tập và dành quá nhiều thời gian trước tivi và màn hình máy tính là nguyên nhân chính gây nên tình trạng béo phì.

2. Chẩn đoán thừa cân và béo phì

– Béo phì là trạng thái dư thừa cân nặng do cơ thể tích tụ quá nhiều mỡ, khi béo quá mức thì gọi là béo phì. Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá thừa cân và béo phì như: Đo lớp mỡ dưới da, đo tỷ trọng cơ thể, dùng các chất phóng xạ hoặc loại cân đặc biệt để đo tỷ lệ phần trăm mỡ trong cơ thể… Trong các phương pháp này, tính BMI là được nhiều tác giả công nhận.

BMI = Cân nặng/(Chiều cao)² (Trong đó: cân nặng tính bằng kg, chiều cao tính bằng m).

– Bảng phân loại thừa cân, béo phì ở người lớn theo BMI của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và của IDI&WPRO cho các nước châu Á (2002) như sau:

Phân loại

WHO BMI (kg/m²)

IDI&WPRO BMI (kg/m²)

Cân nặng thấp (gầy)

< 18,5

Bình thường

18,5 – 24,9

18,5 – 22,9

Thừa cân

25

23

Tiền béo phì

25 – 29,9

23 – 24,9

Béo phì độ I

30 – 34,9

25 – 29,9

Béo phì độ II

35 – 39,9

30

Béo phì độ III

40

– Như vậy, theo Bảng phân loại dành cho cộng đồng các nước châu Á thì người Việt Nam chúng ta chỉ nên có BMI từ 18,5-22,9. Thông thường đối với các bạn gái trẻ, chỉ số BMI lý tưởng nhất là từ 18,5-20. Còn đối với phụ nữ trung niên và người lớn tuổi thì chỉ số BMI lý tưởng là 20-22.

– Ngoài ra bạn có thể tính nhẩm nhanh cân nặng của mình bằng cách:

+ Mức cân nặng lý tưởng: Số lẻ chiều cao (tính bằng cm) nhân 9 chia cho 10.

+ Mức cân nặng tối đa: Bằng số lẻ chiều cao.

+ Mức cân nặng tối thiểu: Số lẻ của chiều cao (tính bằng cm) nhân 8 chia cho 10.

– Ví dụ: bạn cao 160cm (1,6m) thì cân nặng lý tưởng là: 60 x 9 : 10 = 54kg. Cân nặng tối đa cho phép là: 60kg. Cân nặng tối thiểu là 60 x 8 : 10 = 48kg. Như vậy nếu cân nặng của bạn vượt quá số lẻ chiều cao, tức là bạn đã bị thừa cân, vượt càng nhiều thì béo phì càng nặng, tuy nhiên cũng không nên để cân nặng ít hơn mức tối thiểu.

3. Thừa cân và béo phì gây hậu quả gì?

Béo phì là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tật của nhiều cơ quan, bộ phận trong cơ thể như: Hệ tim mạch (Tăng huyết áp, xơ vữa mạch máu, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, hẹp tắc động mạch chi…), Hệ hô hấp (Giảm thông khí, ngừng thở khi ngủ là một biến chứng rất nguy hiểm), Hệ nội tiết, chuyển hóa ( Tình trạng kém dung nạp glucose, kháng insulin, nặng hơn là bệnh tiểu đường, rối loạn chuyển hóa mỡ máu, tăng acid uric gây bệnh gút…), Tác động về tâm sinh lý (Tự ti, trầm cảm, khó hòa nhập cộng đồng…).

+ Ảnh hưởng của tình trạng thừa cân và béo phì đối với hệ vận động của trẻ

– Ảnh hưởng của béo phì bộc lộ ngay từ khi còn trẻ như đi lại chậm chạp hơn, thường bị bạn bè cùng lứa chế giễu, làm cho trẻ béo phì ngại tiếp xúc hơn và hay chơi một mình. Mặt khác với trọng lượng quá cao so với sức chịu đựng còn non yếu của hệ cơ xương khớp nên trẻ thường kêu đau mỏi xương khớp nhất là khớp gối, vùng thắt lưng. Một số trường hợp khớp bị biến dạng như chân hình chữ X hay chữ O, ảnh hưởng đến thẩm mỹ và gây khó khăn trong hoạt động.

– Một bệnh lý khác cũng gặp nhiều ở trẻ em thừa cân và béo phì đó là hiện tượng trượt điểm cốt hóa ở đầu trên xương đùi gây tình trạng đau khớp và biến dạng khớp kiểu khớp háng xoay vào trong. Về lâu dài, đây là yếu tố nguy cơ gây thoái hóa khớp háng sớm và nặng.

– Thoái hóa khớp, đau thắt lưng: Khi trọng lượng cơ thể tăng thì sức nặng đè lên các khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối, cổ chân làm cho các khớp này sớm bị tổn thương và lão hóa nhanh. Hậu quả là gây đau đớn và khó khăn trong vận động, sinh hoạt hàng ngày của người bệnh.

4. Phòng, điều trị béo phì và các bệnh phối hợp như thế nào?

Mục đích của điều trị thừa cân và béo phì là giảm trọng lượng ở giai đoạn đầu rồi duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ hợp lý ở giai đoạn sau bằng các biện pháp sau:

+ Chế độ ăn giảm calo: Lượng calo cung cấp giảm từ 20 – 25 % so với tuổi và giới, loại trừ các loại đường hấp thu nhanh và mỡ bão hòa hoặc tương đương với 1.600 – 1.800 kcal/ngày. Mục đích là giảm cân từ từ, không quá nhanh, khoảng 2-3 kg/tháng.

+ Tăng cường hoạt động thể lực: Luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, thuận lợi cho lưu thông mạch máu, giúp cho dinh dưỡng khớp và sụn khớp tốt hơn. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên các khớp xương trong khi vận động. Nên tập luyện tối thiểu 30 phút/ngày. Những hoạt động thể thao như bơi lội, đi bộ, thể dục nhịp điệu… và các môn thể thao tập thể như bóng đá, bóng chuyền… nên được khuyến khích…

Chúc bạn thành công!